quá trình con người sáng tạo ra tư liệu vật chất (vật phẩm, năng lượng, dịch vụ) thích hợp với nhu cầu của con người và xã hội, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hai yếu tố của SX là người lao động và tư liệu sản xuất. Quá trình SX cũng là quá trình kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất. Quá trình SX trải qua những công đoạn khác nhau, đi từ nguyên liệu, vật liệu tự nhiên hay bán thành phẩm đến sản phẩm cuối cùng. Các công đoạn ấy nối tiếp nhau, đồng thời có quan hệ nhất định với nhau để cùng tác động đi đến hình thức sản phẩm đã ổn định. Quá trình SX không phải lúc nào cũng đồng nhất với quá trình lao động, vì thời gian lao động trong quá trình SX có lúc bị gián đoạn - thời gian đối tượng lao động chịu sự tác động của nhân tố tự nhiên, không có sự tham gia của con người; vd. trong nông nghiệp (thời gian sinh vật vẫn phát triển mà không cần sự tác động của con người), trong công nghiệp chế biến thực phẩm (thời gian lên men).
SX được coi là sự thống nhất giữa lực lượng SX và quan hệ SX, tạo thành phương thức sản xuất. Theo nghĩa rộng, SX là một quá trình tái SX, bao gồm 4 khâu: SX, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, trong đó SX đóng vai trò quyết định; SX quy định phương thức và đặc điểm xã hội của phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Đến lượt mình, phân phối, trao đổi, tiêu dùng cũng có tác động trở lại đối với SX, thậm chí có mặt quyết định SX. SX phụ thuộc vào nhiều yếu tố vật chất (lực lượng sản xuất) và xã hội (quan hệ sản xuất). SX là nguồn chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm trong nước (GDP) và là yếu tố chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tức là sự mở rộng sản lượng quốc gia, tiềm năng của một nước.
Theo lí thuyết SX, người ta phân tích kinh tế về sự biến đổi của một hàm số sản xuất trong quan hệ giữa các đầu vào (lao động, tư liệu sản xuất, vốn...) và các đầu ra (sản lượng), với một công nghệ, năng suất, giá cả nhất định.